Chủ Nhật, 27 tháng 10, 2013

HỒ CHÍ MINH VỚI LIÊN XÔ (1954-1960)





Nguyễn Thị Mai Hoa
Đại học Quốc gia Hà Nội
Việt Nam có một vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong khu vực Đông Nam Á, là điểm giao hội của các đường giao thông quốc tế trên biển Thái Bình Dương, có tài nguyên phong phú, được Mỹ đánh giá là một trong những vị trí sống còn trong tuyến ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản. Mỹ rất coi trọng vị trí chiến lược của Việt Nam trong chiến lược chung của Mỹ, mà trọng điểm lúc đó là tập trung chống lại phong trào giải phóng dân tộc đang sục sôi khắp các lục địa. Hiệp định Giơnevơ năm 1954 lập lại hoà bình ở Đông Dương được ký kết, song Mỹ không ký vào Hiệp định để 18 ngày sau chính thức đặt chân vào Việt Nam, thực hiện chính sách toàn cầu đặt trong mối quan hệ với Đông Dương và Đông Nam Á[1].  

Thứ Bảy, 12 tháng 10, 2013

QUAN ĐIỂM CỦA TRUNG QUỐC VỀ VIỆC PHÁT ĐỘNG ĐẤU TRANH VŨ TRANG Ở MIỀN NAM VIỆT NAM (1954-1964)


Nguyễn Thị Mai Hoa
Đại học Quốc gia Hà Nội
Về cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của Việt Nam, Việt Nam và Trung Quốc có một số bất đồng trên các vấn đề như phát động đấu tranh vũ trang ở miền Nam Việt Nam, tính chất trường kỳ của cuộc kháng chiến, quan hệ giữa cách mạng miền Bắc với cách mạng miền Nam… E ngại chiến tranh ở Đông Dương có thể mở rộng, dẫn đến sự can thiệp sâu rộng của Hoa Kỳ vào Đông Dương, quan điểm của Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam là ủng hộ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, kinh qua đấu tranh trường kỳ ảnh hưởng và tranh thủ miền Nam.

Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2013

QUAN HỆ VIỆT NAM- LIÊN XÔ NHỮNG NĂM 1965-1975



Nguyễn Thị Mai Hoa
 Đại học Quốc gia Hà Nội
Thế kỷ XX đã khép lại với rất nhiều sự kiện in dấu đậm nét trong lịch sử nhân loại. Thế kỷ XX cũng ghi nhận những kỳ tích của dân tộc Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã đi vào lịch sử như một  biểu tượng cho khát vọng tự do, hoà bình và bản lĩnh, trí tuệ của nhân dân Việt Nam. Tầm vóc, nguyên nhân thắng lợi và những vấn đề liên quan đến cuộc kháng chiến chống Mỹ luôn chiếm được sự quan tâm nghiên cứu và thảo luận sôi nổi. Một trong những câu hỏi thường được đặt ra là: Quan hệ Việt Nam với đồng minh chiến lược quan trọng là Liên Xô trong giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến có diện mạo như thế nào? Nó bị tác động ra sao và ở chừng mực nào bởi các mối quan hệ quốc tế liên quan khác? Bài viết dưới đây nhằm mục đích tìm câu trả lời cho những câu hỏi ấy.

Thứ Bảy, 21 tháng 9, 2013

QUAN HỆ VỚI CÁC NƯỚC LÁNG GIỀNG VÀ KHU VỰC TRONG TƯ DUY VỀ ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM SAU ĐỔI MỚI (1986)




Nguyễn Thị Mai Hoa
Đại học Quốc gia Hà Nội
Trong mọi thời điểm, nhân tố quốc tế- thời đại, đặc biệt là vấn đề quan hệ với các nước láng giềng và khu vực luôn có những ảnh hưởng nhất định đến tiến trình phát triển của Việt Nam. Những năm đổi mới, vấn đề này càng được đặt ra cấp thiết; nhận thức và đánh giá đúng vai trò, vị mối quan hệ với các nước láng giềng, khu vực là bước chuyển quan trọng trong tư duy, quan điểm về đối ngoại của Đảng CSVN.

Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2013

HỒ CHÍ MINH VỚI QUAN HỆ VIỆT - TRUNG





Nguyễn Thị Mai Hoa
Đại học Quốc gia Hà Nội
Quan hệ hợp tác hữu nghị với các nước láng giềng luôn luôn là mối quan tâm to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bởi "ngoại có yên, nội mới tĩnh". Trong sự nghiệp cách mạng của mình, Hồ Chí Minh không ngừng vun đắp cho mối quan hệ hòa hiếu của Việt Nam với các nước có chung biên giới, đặc biệt là với Trung Quốc, bởi Trung Quốc không chỉ là nước láng giềng "núi liền núi, sông liền sông", là đất nước "cùng bị áp bức, cùng là bạn chiến đấu, cùng làm cách mạng”, mà còn là một nước lớn, có vị thế và ảnh hưởng mang tầm thế giới ; đồng thời, ảnh hưởng trực tiếp tới Việt Nam. Hồ Chí Minh không chỉ là nhà kiến tạo quan hệ Việt - Trung trong thời đại mới, mà còn suốt đời phấn đấu cho sự vững bền, gắn bó "như răng với môi" của mối quan hệ đặc biệt này.

Thứ Hai, 26 tháng 8, 2013

QUAN HỆ VIỆT NAM - LIÊN XÔ NHỮNG NĂM ĐẦU SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM





Nguyễn Thị Mai Hoa
Đại học Quốc gia Hà Nội
Ngày 9-8-1945, sau khi giành thắng lợi hoàn toàn trước quân Đức, Hồng quân Liên Xô bắt đầu tiến công quân Nhật. Trong vòng không đầy một tuần lễ, quân đội Liên Xô đánh tan gần một triệu quân Nhật tại Mãn Châu (Trung Quốc), buộc Nhật đầu hàng Liên Xô và Đồng Minh không điều kiện, chấm dứt Chiến tranh thế giới lần thứ hai[1]. Việc gần một triệu quân Quan Đông thiện chiến nhất của Nhật bị tiêu diệt đã tác động mạnh đến tinh thần quân Nhật ở Đông Dương. Điều kiện khách quan cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền của nhân dân Việt Nam đã hoàn toàn chín muồi, "thời cơ ngàn năm có một" đã đến, nhân dân Việt Nam tiến hành thắng lợi Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1945), giành chính quyền từ tay Nhật, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Chủ Nhật, 18 tháng 8, 2013

TRIẾT LÝ NGOẠI GIAO "DĨ BẤT BIẾN, ỨNG VẠN BIẾN" VỚI CON ĐƯỜNG HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM



Nguyễn Thị Mai Hoa
Đại học Quốc gia Hà Nội
1. “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” – triết lý hành động của ngoại giao Việt Nam
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, trong tình thế "nước sôi, lửa bỏng", "vận nước lâm nguy", Nhà nước Việt Nam mới đã nỗ lực hết sức mình để đưa đất nước thoát khỏi cảnh "ngàn cân treo sợi tóc". Chuyến sang Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh tháng 5-1946 là một trong những cố gắng ấy. Trước lúc rời đất nước (31-5), Hồ Chí Minh dặn dò cụ Huỳnh Thúc Kháng: "Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó mà phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở Cụ cùng anh em giải quyết cho. Mong Cụ "dĩ bất biến, ứng vạn biến"[1]. "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" – là sự tổng hoà các phương pháp luận, trở thành chân giá trị, thước đo khả năng quyền biến trở thành phương pháp cách mạng nói chung và phương pháp ngoại giao nói riêng, nhằm đảm bảo sự tồn vong của dân tộc trong điều kiện "thù trong giặc ngoài".

VẤN ĐẾ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ TRONG HAI CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP VÀ CHỐNG MỸ (1945-1975)




Nguyễn Thị Mai Hoa
Đại học Quốc gia Hà Nội
Là một nước nhỏ, với vị trí địa – chính trị, địa- kinh tế đặc biệt, trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước, Việt Nam luôn luôn phải đối mặt với sự nhòm ngó, âm mưu thôn tính của nhiều thế lực thù địch khác nhau. Trong lịch sử dân tộc, thắng lợi của hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố tạo nên, trong đó không thể không kể đến một nhân tố cơ bản tạo nên sức mạnh cần và đủ để chiến thắng: Thực hiện đoàn kết quốc tế.

Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2013

VIỆT NAM – LIÊN XÔ: NHỮNG MỐI LIÊN HỆ GIĂNG MẮC ĐẦU TIÊN



Nguyễn Thị Mai Hoa
Đại học Quốc gia Hà Nội
1. Việt Nam và Liên Xô tuy xa cách nhau về mặt địa lý, nhưng hai dân tộc đã có sự hiểu biết và tiếp xúc từ rất sớm. Chuyên gia Việt Nam học Anatoly Sokolov cho biết: “Lần đầu tiên ở Nga người ta được biết về Việt Nam là vào năm 1783. Khi đó, xưởng in trường Đại học Mátxcơva đã phát hành bộ sách nhiều tập dịch từ tiếng Pháp mô tả các nước khác nhau. Một trong những tác giả là Samuel Baron, con trai của đại diện Công ty Đông Ấn Hà Lan tại Bắc Kỳ đã dành 65 trang để nói về khí hậu, tôn giáo, quân đội, hệ thống tài chính và các phong tục dân gian của Việt Nam”[1]. Nếu trong thế kỷ XVIII, người Nga chỉ biết đến Việt Nam qua những thông tin ít ỏi đó, thì đến đầu thế kỷ XIX đã bắt đầu xuất hiện hàng chục thông tin chi tiết hơn về đất nước này, mặc dù khi đó Việt Nam còn nằm bên ngoài lợi ích địa - chính trị của Đế chế Nga. Do hai phần ba thế kỷ XIX chưa hề có người Nga nào đến Việt Nam; vì vậy, giai đoạn này, các ấn phẩm ở Nga viết về Việt Nam chủ yếu được dịch từ báo chí nước ngoài, hầu hết là từ tiếng Pháp.

Thứ Sáu, 16 tháng 8, 2013

THÀNH TỰU VÀ THÁCH THỨC TRONG QUAN HỆ CHÍNH TRỊ VIỆT NAM - TRUNG QUỐC 15 NĂM SAU BÌNH THƯỜNG HÓA (1991-2006)





Nguyễn Thị Mai Hoa
Đại học Quốc gia Hà Nội
11.  Một số thành tựu cơ bản
Sau khi Việt Nam – Trung Quốc bình thường hóa quan hệ, thông qua các cuộc hội đàm, quan hệ chính trị giữa Việt Nam - Trung Quốc phát triển nhanh chóng. Thành tựu lớn nhất mà hai nước đã đạt được là đã "khép lại quá khứ, mở ra tương lai", xây dựng, phát triển quan hệ kiểu mới – “đồng chí, nhưng không đồng minh”. Đó là cơ sở quan trọng, đặt nền tảng để hai nước tiếp tục hợp tác sâu rộng hơn.
Sau khi bình thường hóa hóa quan hệ (1991), các chuyến thăm hữu nghị rộng rãi, các cuộc hội đàm cấp cao giữa hai nước đã diễn ra sôi động, liên tục.