Thứ Hai, 26 tháng 8, 2013

QUAN HỆ VIỆT NAM - LIÊN XÔ NHỮNG NĂM ĐẦU SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM





Nguyễn Thị Mai Hoa
Đại học Quốc gia Hà Nội
Ngày 9-8-1945, sau khi giành thắng lợi hoàn toàn trước quân Đức, Hồng quân Liên Xô bắt đầu tiến công quân Nhật. Trong vòng không đầy một tuần lễ, quân đội Liên Xô đánh tan gần một triệu quân Nhật tại Mãn Châu (Trung Quốc), buộc Nhật đầu hàng Liên Xô và Đồng Minh không điều kiện, chấm dứt Chiến tranh thế giới lần thứ hai[1]. Việc gần một triệu quân Quan Đông thiện chiến nhất của Nhật bị tiêu diệt đã tác động mạnh đến tinh thần quân Nhật ở Đông Dương. Điều kiện khách quan cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền của nhân dân Việt Nam đã hoàn toàn chín muồi, "thời cơ ngàn năm có một" đã đến, nhân dân Việt Nam tiến hành thắng lợi Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1945), giành chính quyền từ tay Nhật, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Chủ Nhật, 18 tháng 8, 2013

TRIẾT LÝ NGOẠI GIAO "DĨ BẤT BIẾN, ỨNG VẠN BIẾN" VỚI CON ĐƯỜNG HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM



Nguyễn Thị Mai Hoa
Đại học Quốc gia Hà Nội
1. “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” – triết lý hành động của ngoại giao Việt Nam
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, trong tình thế "nước sôi, lửa bỏng", "vận nước lâm nguy", Nhà nước Việt Nam mới đã nỗ lực hết sức mình để đưa đất nước thoát khỏi cảnh "ngàn cân treo sợi tóc". Chuyến sang Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh tháng 5-1946 là một trong những cố gắng ấy. Trước lúc rời đất nước (31-5), Hồ Chí Minh dặn dò cụ Huỳnh Thúc Kháng: "Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó mà phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở Cụ cùng anh em giải quyết cho. Mong Cụ "dĩ bất biến, ứng vạn biến"[1]. "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" – là sự tổng hoà các phương pháp luận, trở thành chân giá trị, thước đo khả năng quyền biến trở thành phương pháp cách mạng nói chung và phương pháp ngoại giao nói riêng, nhằm đảm bảo sự tồn vong của dân tộc trong điều kiện "thù trong giặc ngoài".

VẤN ĐẾ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ TRONG HAI CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP VÀ CHỐNG MỸ (1945-1975)




Nguyễn Thị Mai Hoa
Đại học Quốc gia Hà Nội
Là một nước nhỏ, với vị trí địa – chính trị, địa- kinh tế đặc biệt, trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước, Việt Nam luôn luôn phải đối mặt với sự nhòm ngó, âm mưu thôn tính của nhiều thế lực thù địch khác nhau. Trong lịch sử dân tộc, thắng lợi của hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố tạo nên, trong đó không thể không kể đến một nhân tố cơ bản tạo nên sức mạnh cần và đủ để chiến thắng: Thực hiện đoàn kết quốc tế.

Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2013

VIỆT NAM – LIÊN XÔ: NHỮNG MỐI LIÊN HỆ GIĂNG MẮC ĐẦU TIÊN



Nguyễn Thị Mai Hoa
Đại học Quốc gia Hà Nội
1. Việt Nam và Liên Xô tuy xa cách nhau về mặt địa lý, nhưng hai dân tộc đã có sự hiểu biết và tiếp xúc từ rất sớm. Chuyên gia Việt Nam học Anatoly Sokolov cho biết: “Lần đầu tiên ở Nga người ta được biết về Việt Nam là vào năm 1783. Khi đó, xưởng in trường Đại học Mátxcơva đã phát hành bộ sách nhiều tập dịch từ tiếng Pháp mô tả các nước khác nhau. Một trong những tác giả là Samuel Baron, con trai của đại diện Công ty Đông Ấn Hà Lan tại Bắc Kỳ đã dành 65 trang để nói về khí hậu, tôn giáo, quân đội, hệ thống tài chính và các phong tục dân gian của Việt Nam”[1]. Nếu trong thế kỷ XVIII, người Nga chỉ biết đến Việt Nam qua những thông tin ít ỏi đó, thì đến đầu thế kỷ XIX đã bắt đầu xuất hiện hàng chục thông tin chi tiết hơn về đất nước này, mặc dù khi đó Việt Nam còn nằm bên ngoài lợi ích địa - chính trị của Đế chế Nga. Do hai phần ba thế kỷ XIX chưa hề có người Nga nào đến Việt Nam; vì vậy, giai đoạn này, các ấn phẩm ở Nga viết về Việt Nam chủ yếu được dịch từ báo chí nước ngoài, hầu hết là từ tiếng Pháp.

Thứ Sáu, 16 tháng 8, 2013

THÀNH TỰU VÀ THÁCH THỨC TRONG QUAN HỆ CHÍNH TRỊ VIỆT NAM - TRUNG QUỐC 15 NĂM SAU BÌNH THƯỜNG HÓA (1991-2006)





Nguyễn Thị Mai Hoa
Đại học Quốc gia Hà Nội
11.  Một số thành tựu cơ bản
Sau khi Việt Nam – Trung Quốc bình thường hóa quan hệ, thông qua các cuộc hội đàm, quan hệ chính trị giữa Việt Nam - Trung Quốc phát triển nhanh chóng. Thành tựu lớn nhất mà hai nước đã đạt được là đã "khép lại quá khứ, mở ra tương lai", xây dựng, phát triển quan hệ kiểu mới – “đồng chí, nhưng không đồng minh”. Đó là cơ sở quan trọng, đặt nền tảng để hai nước tiếp tục hợp tác sâu rộng hơn.
Sau khi bình thường hóa hóa quan hệ (1991), các chuyến thăm hữu nghị rộng rãi, các cuộc hội đàm cấp cao giữa hai nước đã diễn ra sôi động, liên tục.

Thứ Ba, 13 tháng 8, 2013

QUAN HỆ GIỮA VIỆT NAM VỚI LIÊN XÔ VÀ TRUNG QUỐC TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1954-1975)



Nguyễn Thị Mai Hoa
Đại học Quốc gia Hà Nội
Trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, bên cạnh việc giữ vững đường lối độc lập, tự chủ, phát huy cao độ sức mạnh của toàn dân tộc, Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương ra sức tăng cường đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của bè bạn trên thế giới, mà trước hết là các nước XHCN, đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc, tạo nên sức mạnh tổng hợp, đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Tuy nhiên, đặt trong điều kiện tình hình thế giới diễn biến phức tạp thời điểm bấy giờ, khi mâu thuẫn Xô - Trung nảy sinh và ngày càng trở nên gay gắt, thì việc triển khai chiến lược đoàn kết quốc tế của Đảng, Nhà nước Việt Nam thực không hề đơn giản. Quá trình đó đòi hỏi ở bộ não chỉ đạo cách mạng Việt Nam phải kiên quyết giữ vững nguyên tắc, nhưng mềm dẻo về sách lược.

CHÍNH SÁCH ĐÔI NGOẠI CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA SAU NGÀY GIÀNH ĐỘC LẬP



Nguyễn Thị Mai Hoa
Đại học Quốc gia Hà Nội
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công mở ra một kỷ nguyên mới, song không bao lâu sau ngày độc lập, nhân dân Việt Nam đứng trước không ít khó khăn, nguy cơ, thách thức. Thực hiện mục tiêu nhất quán và xuyên suốt - độc lập, tự do, dân chủ, hòa bình, trên nền tảng "thống nhất bên trong, tìm bạn bên ngoài", Đảng, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đề ra và thực hiện một tổ hợp các chủ trương, chính sách đối ngoại, kết hợp chặt chẽ giữa đối nội với đối ngoại, để bảo vệ thành quả xương máu của dân tộc.

VIỆT NAM TĂNG CƯỜNG QUAN HỆ VỚI CÁC ĐỐI TÁC Ở KHU VỰC CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG: TỪ QUAN ĐIỂM ĐẾN THỰC TIỄN






Nguyễn Thị Mai Hoa
Đại học Quốc gia Hà Nội
Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực có diện tích trải gần nửa bề mặt trái đất với số dân vào khoảng 3,5 tỷ người và được coi là một điển hình về sự năng động trong phát triển, có ảnh hưởng to lớn đối với thế giới. Việt Nam là một quốc gia thuộc khu vực, vì thế, nhận thức đầy đủ và có quan điểm, chủ trương sát hợp trở thành yêu cầu chiến lược trong chính sách đối ngoại đối với khu vực của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
1. Nhận thức của Chính phủ Việt Nam về khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
Trong lịch sử cũng như từ khi bắt đầu từ khi khởi xướng công cuộc đổi mới cho đến nay  (1986 - 2011), chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn là một trong những cơ sở bảo đảm và tạo điều kiện thuận lợi cho chính sách đối nội được thực hiện hiệu quả. 

Thứ Hai, 12 tháng 8, 2013

NHÂN TỐ QUỐC TẾ VÀ SỰ NGHIỆP CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM



Nguyễn Thị Mai Hoa
Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam với mục tiêu chính nghĩa, khát vọng độc lập tự do tự thân đã tạo ra sức mạnh vượt trội. Tuy nhiên, sức mạnh ấy sẽ được nhân lên gấp bội lần, tính chính nghĩa càng tỏa sáng, nếu được gắn với thế hợp pháp, gắn với các giá trị tiến bộ của nhân loại, được thế giới động viên, cổ vũ, ủng hộ. Vì thế, đặt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong trào lưu dân chủ, tiến bộ của thời đại, kết hợp chặt chẽ với các lực lượng hòa bình thế giới, tranh thủ sự đồng tình, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp, đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ vừa là yêu cầu khách quan, vừa là mục tiêu chiến lược của cuộc kháng chiến.

Chủ Nhật, 11 tháng 8, 2013

LIÊN BANG XÔ- VIẾT VỚI CUỘC XUNG ĐỘT CỤC BỘ ĐẦU TIÊN TRONG CHIẾN TRANH LẠNH




Nguyễn Thị Mai Hoa
Gần 60 năm đã trôi qua, nhưng cho đến hôm nay, chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) vẫn đang là sự kiện lịch sử chứa đựng rất nhiều điều bí ẩn, chưa được giải mã.  Một thời gian dài, những tư liệu đã được công bố về sự kiện lịch sử này hoặc còn sơ lược, hoặc còn mâu thuẫn, thậm chí là trái ngược nhau. Đó là một trong những nguyên nhân khiến cho việc nghiên cứu về cuộc chiến tranh trở nên khó khăn, ít tiến triển. Thời gian qua, Cộng hòa Liên bang Nga và các nước liên quan đã giải mật một số lượng lớn các tài liệu về cuộc chiến tranh này (trong đó có 215 bộ hồ sơ giá trị do Bộ Tổng tham mưu quân đội CHLB Nga cung cấp), nhờ thế, giới nghiên cứu có thêm cơ sở và điều kiện nhìn nhận, đánh giá, luận giải những chiều cạnh khác nhau của cuộc chiến tranh một cách thấu đáo hơn, bao gồm vai trò và quá trình can dự của Liên Xô vào cuộc chiến.